Cộng hòa Kareliya
From Wikipedia, the free encyclopedia
Cộng hòa Kareliya hay Cộng hòa Karelia (tiếng Nga: Респу́блика Каре́лия, Respublika Kareliya; tiếng Karelia: Karjalan tazavaldu; tiếng Phần Lan: Karjalan tasavalta; tiếng Veps: Karjalan Tazovaldkund) là một chủ thể liên bang của Nga. Thủ đô là thành phố Petrozavodsk. Dân số: 643.548 (theo điều tra dân số Nga năm 2010).[13]
Republic of Karelia (tiếng Anh) Республика Карелия (tiếng Nga) | |
---|---|
- Nước cộng hòa - | |
![]() | |
Hệ tọa độ: 63°49′B 33°00′Đ | |
![]() Huy hiệu Cộng hòa Karelia | ![]() Cờ Cộng hòa Karelia |
Anthem | Quốc ca Cộng hòa Karelia [cần dẫn nguồn] |
Thể chế chính trị | |
Quốc gia | Nga |
Tư cách chính trị | Nước cộng hòa |
Vùng liên bang | Tây bắc[1] |
Vùng kinh tế | Bắc[2] |
Thủ đô | Petrozavodsk[cần dẫn nguồn] |
Ngôn ngữ chính thức | Nga[3] |
Số liệu thống kê | |
Dân số (Kết quả sơ bộ Điều tra 2010)[4] | 643.548 618,056(2.018) người |
- Xếp hạng trong nước Nga | thứ 68 |
- Thành thị[4] | 78.0% |
- Nông thôn[4] | 22.0% |
Dân số (Điều tra 2002)[5] | see source |
- Xếp hạng trong nước Nga | N/A |
- Thành thị[5] | N/A |
- Nông thôn[5] | N/A |
- Mật độ | [chuyển đổi: số không hợp lệ][6] |
Diện tích (điều tra năm 2002)[7] | 172.400 km2 (66.600 dặm vuông Anh) |
- Xếp hạng ở Nga | thứ 20 |
Thành lập | 16/7/1956[8] |
Biển số xe | 10 |
ISO 3166-2:RU | RU-KR |
Múi giờ | [9] |
Chính quyền (đến tháng 3 năm 2011) | |
Người đứng đầu[10] | Andrey Nelidov[11] |
Lập pháp | Nghị viện lập pháp[12] |
Website chính thức | |
http://www.gov.karelia.ru/ |
Địa lý
Nước cộng hòa Kareliya nằm ở phía tây bắc liên bang Nga, nằm giữa lòng chảo của biển Trắng và biển Baltic. Đường bờ biển Trắng là 630 km (391 mi).
- Diện tích: 172.400 km² (66.600 mi²)
- Biên giới:
- nội địa: Murmansk Oblast (N), Arkhangelsk Oblast (E/SE), Vologda Oblast (SE/S), Leningrad Oblast (S/SW)
- quốc tế: Phần Lan (SW/W/NW) (chiều dài đường biên giới: 723 km, giáp các tỉnh Bắc Ostrobothnia, Kainuu, Bắc Karelia)
- Nước: Biển Trắng (một vịnh của Biển Barents) (N/NE/E), Hồ Onega (SE), Hồ Ladoga (SW)
- Đỉnh cao nhất: 576 m (1.890 ft), đỉnh Nuorunen.
Sông
Có khoảng 27.000 con sông ở Karelia. Những sông lớn bao gồm:
- Sông Vodla (Vodlajoki, 149 km)
- Sông Kem (Kemijoki, 191 km)
- Sông Kovda (Koutajoki)
- Sông Shuya (Suojoki)
- Sông Suna (Suunujoki) với Thác Kivach (Kivatšun vesiputous)
- Sông Vyg (Uikujoki)
Hồ
Có khoảng 60.000 hồ ở Karelia. Hồ và đầm lầy ở Kareliya chứa khoảng 2.000 km³ nước sạch. Hồ Ladoga (tiếng Phần Lan: Laatokka) và Hồ Onega (Ääninen) là những hồ lớn nhất ở châu Âu. Other lakes include:

- Nyukozero (Nuokkijärvi)
- Pyaozero (Pääjärvi)
- Segozero (Seesjärvi)
- Syamozero (Säämäjärvi)
- Topozero (Tuoppajärvi)
- Vygozero (Uikujärvi)
Hành chính

Khí hậu
Cộng hòa Kareliya nằm trong vùng khí hậu lục địa Đại Tây Dương. Nhiệt độ trung bình tháng Một là -8.0 °C, và +16.4 °C vào tháng Bảy. Lượng mưa trung bình là 500–700 mm.
Liên kết
- (tiếng Anh) (tiếng Nga) (tiếng Phần Lan) Official website of the Republic of Karelia
- (tiếng Anh) (tiếng Nga) (tiếng Phần Lan) Karelia.ru web server Lưu trữ ngày 1 tháng 10 năm 2019 tại Wayback Machine
- (tiếng Anh) (tiếng Nga) (tiếng Phần Lan) Heninen.net - various information about Karelia
- (tiếng Anh) Information about Karelians
- (tiếng Anh) Virtual Finland Lưu trữ ngày 3 tháng 6 năm 2004 tại Wayback Machine - "The Many Karelias" article
- (tiếng Anh) ProKarelia Lưu trữ ngày 8 tháng 10 năm 2012 tại Wayback Machine (also available in other languages)
Tham khảo
Wikiwand - on
Seamless Wikipedia browsing. On steroids.